Tổng quan về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong năm 2019

Theo Tổng cục Thống kê, nền kinh tế Việt Nam năm 2019 khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất; chất lượng tăng trưởng và môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh. Nền tảng kinh tế vĩ mô được củng cố và từng bước được tăng cường, tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%. Tuy nhiên, cũng theo nhận định của Tổng cục Thống kê, năm 2020 vẫn còn nhiều khó khăn do dịch bệnh, thời tiết nắng nóng, doanh nghiệp khó khăn và biến động của thế giới cũng tác động đến nền kinh tế trong nước.

                                                                         Hình ảnh: TTXVN

Theo PGS.TS Tô Trung Thành, đồng chủ biên Ấn phẩm thường niên của Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong năm 2019, Việt Nam có thêm 138.100 DN đăng ký thành lập mới với tổng số vốn hơn 1,73 triệu tỷ đồng. Số lượng DN và vốn mới tăng 5,2% và 17,1% so với năm 2018, mức cao nhất từ trước đến nay. Mỗi DN thành lập có vốn điều lệ ban đầu bình quân là 12,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, số lượng DN tạm ngừng kinh doanh và chờ làm thủ tục giải thể cũng tăng nhanh, tương ứng là 28.700 và 43.700 DN. Như vậy, cho đến cuối năm 2019, Việt Nam có khoảng 760.000 DN đang hoạt động, so với mục tiêu một triệu DN vào cuối năm 2020.

PGS. TS. Tô Trung Thành (Đại học Kinh tế Quốc dân) – đồng chủ biên của ấn phẩm thường niên | Hình ảnh: V-Startup Le Cerne

Nếu nhìn vào cấu trúc của DN theo ngành có thể thấy tỷ trọng các DN hoạt động trong khu vực dịch vụ ngày càng tăng, từ 63,3% bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng lên 66,6% năm 2018, trong đó hơn một nửa số DN thuộc nhóm ngành thương mại (54% năm 2017, 55% năm 2018). Điều này phần nào cho thấy những sản phẩm tuy được làm tăng giá đối với người mua qua khâu lưu thông (phí thương mại) nhưng không thực sự có nhiều ý nghĩa với khu vực trực tiếp sản xuất và nền kinh tế. Tuy nhiên có tín hiệu đáng mừng là số DN hoạt động trong lĩnh vực “hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ” chiếm tỷ lệ khá cao (11%) trong tổng số DN hoạt động  trong lĩnh vực dịch vụ, điều này phù hợp với xu hướng của nền KTS hiện nay và tương lai.

Kết quả số liệu thống kê của TCTK mới nhất cho thấy tỷ lệ DN có kết quả sản xuất kinh doanh so với số DN đang hoạt động ngày càng có xu hướng nhỏ đi, năm 2018 tỷ lệ này chỉ khoảng 85,6% so với tổng số DN đang hoạt động (Bảng 1.11). Như vậy việc đặt ra chỉ tiêu một triệu DN cuối năm 2020 cần phải tính đến cả chỉ tiêu các DN có đi vào hoạt động sản xuất để tạo ra sản lượng GDP hay không, đi kèm với những giải pháp để gia tăng được tỷ lệ này.

Bảng 1.11. Tỷ trọng DN có kết quả sản xuất kinh doanh so với số DN đang hoạt động (%)

  Bình quân giai đoạn 2011-2015 2016 2017 2018
Số DN có kết quả sản xuất kinh doanh so với Số DN đang hoạt động đến 31/12 93,0 96,6 85,61 85,60
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản 63,9 57,2 54,90 54,43
Công nghiệp và xây dựng 81,5 82,9 77,39 77,32
Dịch vụ 92,0 91,3 90,35 90,27

Nguồn: TCTK

Xét về các DN sản xuất kinh doanh có lãi so với tổng số DN đã đăng ký thì tỷ lệ này thấp một cách đáng quan ngại và đang có xu hướng ngày càng đi xuống. Đáng chú ý là khu vực ngoài Nhà nước là thấp nhất trong 3 loại hình sở hữu DN. Trong khi đó, khu vực FDI được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, tiếp cận đất đai… nhưng chỉ có 51% DN có lãi, phản ánh dấu hiệu của hiện tượng chuyển giá (Bảng 1.12).

Bảng 1.12. Tỷ lệ DN sản xuất kinh doanh kinh doanh có lãi theo loại hình DN (%)

 

 

Bình quân giai đoạn

2011-2015

2016 2018
Cả nước 46,5 47,3 45,6
Khu vực DNNN 80,2 83,5 81,1
   Khu vực DN 100% vốn nhà nước 80,6 83,4 78,7
Khu vực DNTN 46,1 47,0 45,2
Khu vực DN FDI 51,3 51,4 51,0

Nguồn: TCTK

Tính toán từ kết quả điều tra DN hàng năm cho thấy hệ số vốn – sản lượng ngày càng tăng, năm 2011 bình quân cả nước cần 1,44 đồng vốn để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì đến năm 2018 phải cần 1,66 đồng vốn, hiệu quả giảm khoảng 15%. Khu vực sản xuất trong nước có hiệu quả sử dụng vốn ngày càng giảm sút; trong đó, DNNN từ 1,8 đồng vốn tạo ra một đồng doanh thu thuần năm 2011, đến năm 2018 tỷ lệ này tăng lên 3,06 đồng. Điều này phản ánh những thất thoát, lãng phí, đầu tư vào những công trình không hiệu quả, không làm tăng giá trị tài sản của những chu kỳ sản xuất sau, xây những công trình phúc lợi, công cộng chưa cần thiết…

Nhìn chung trong 3 loại hình sở hữu chỉ có DN FDI có hiệu quả sử dụng vốn tăng mạnh, khu vực này năm 2011 cần 1,17 đồng vốn tạo ra một đồng doanh thu thuần, đến năm 2018 tỷ lệ này chỉ còn 1,03 đồng.

Bài viết trích từ Báo cáo Khoa học thường niên: “Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2019” của trường Đại học kinh tế Quốc Dân – Chủ biên: GS.TS Trần Thọ Đạt – PGS.TS Tô Trung Thành

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *